Người đem nón cổ làng Chuông ra thế giới

16 Tháng 4 2016
(0 bình chọn)
Đăng bởi :  

Đắn đo và trăn trở với việc giữ nghề, cụ Canh - nghệ nhân già làng Chuông - không chỉ giúp người dân hiểu những giá trị văn hóa truyền thống ẩn trong chiếc nón nhỏ bé, mà còn góp phần đưa nón làng Chuông đến với bạn bè năm châu.

Bên ngoài căn nhà in dấu rêu phong tại làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội, cụ Phạm Trần Canh chỉ treo hai chiếc nón nhỏ: Một kiểu tàu, một nón quai thao. Cụ Canh đang ngồi khâu nón bên cửa, còn cụ bà hì hụi dưới bếp chuẩn bị cho bữa trưa. Vừa tiếp khách tay cụ vẫn thoăn thoắt chằm mũi kim lên xuống. Chiếc nón đang khâu dở. Quanh cả chủ và khách chất đầy nan tre, lá cọ và những chiếc nón quai thao đã thành hình đang đợi công đoạn cuối. Cụ là người làm nón cổ có tiếng nhất làng Chuông nhiều thập kỉ nay.

Làng Chuông là một ngôi làng nhỏ có từ lâu đời, nằm bên dòng sông Đáy hiền hòa. Làng có nghề làm nón truyền thống đã nhiều thế kỷ. Xưa kia, nón làng Chuông là lễ vật dâng lên cho các hoàng hậu, công chúa trong cung, cũng là món trang sức được các bà, các chị ưa chuộng.

Nghệ nhân Phạm Trần Canh năm nay đã 82 tuổi, khi là đứa bé
để chỏm ông đã biết đan nón

Hồi đó, để có được một chiếc nón Chuông, người xóm Lựa phải làm khuôn, người thôn Tràng Xuân vót vòng, người thôn Giầu Tế làm sợi guột. Ông Hai Cát (tức Nguyễn Cát) được cho là người có công trong việc khẳng định tên tuổi nón làng Chuông. Tại hội chợ Trường Đấu Xảo, Hà Đông năm 1930, nón của ông đã được đánh giá rất cao, được chính quyền sở tại cấp giấy hành nghề và được Hiệp hội Hàng nón công nhận chất lượng còn cao hơn cả nón Huế.

Tuy nhiên, những năm tháng chiến tranh kéo dài đã xóa nhòa trong trí nhớ mọi người về cách làm nón quai thao tinh xảo một thời. Người dân làng Chuông lúc đó, phần thì li tán, phần chết vì bom đạn, đói kém, số còn lại cũng chỉ duy trì cách làm nón thông thường. “Đến những năm 80, 90 thì những nghệ nhân già nhất trong làng cũng mất, từ đó chẳng ai còn biết cách làm nón quai thao ra sao nữa” - cụ Canh tay vẫn không rời khỏi chiếc nón đang khâu kể chuyện.

Hành trình đi tìm và phục hồi lại chiếc nón quai thao cổ của cụ Canh có một chút may mắn, nhưng hơn cả vẫn là ý chí của người mang nặng yêu thương với nghề truyền thống. Những năm sau chiến tranh, cụ Canh trở về làng tiếp tục nghề làm nón, vừa là để kiếm kế sinh nhai nuôi sống cả gia đình. Khoảng những năm 90, có đoàn văn công biết tiếng nón làng Chuông tìm về đặt hàng, nhưng cái họ muốn lại là những chiếc nón quai thao truyền thống. “Lúc ấy mình đã biết cái nón quai thao truyền thống làm như thế nào đâu. Hồi bé thì chưa kịp biết, chiến tranh loạn lạc, bây giờ những người biết làm thì đã mất lâu rồi. Cách làm nón vì thế mà cũng bị thất truyền”.

Trước yêu cầu khó của khách, cụ quyết tâm phải tìm lại và làm cho bằng được những chiếc nón quai thao làng Chuông năm nào. Một mình rong ruổi qua nhiều vùng quê như Thái Bình, Nam Định… bất cứ nơi đâu có tiếng hát chèo véo von là cụ tìm tới. “Một lần mình may mắn mua được một chiếc nón quai thao cổ, chính là chiếc nón treo ngoài cửa bây giờ đấy. Mình đem về nhà tháo tung nó ra, mày mò lại từ đầu”. Từ cách xếp nan tre như thế nào, lá cọ phải đặt ra sao cho thẳng và đẹp… cụ ghi nhớ một cách cẩn thận.

Với lòng say nghề cùng lời động viên an ủi của cụ bà Nguyễn Thị Cẩm, sau một thời gian kiên trì mày mò, cụ Canh đã làm được chiếc nón quai thao. “Làm được chiếc nón đầu tiên này, mình vui lắm. Cuối cùng thì cũng tìm lại được nghề làm nón quai thao xưa của ông cha”. Nhắc đến kỷ niệm này, giọng cụ Canh trở nên trầm hơn. Không dừng lại ở một kiểu nón, cụ Canh đã cố công sưu tầm các kiểu nón cổ khác nhau. Bởi theo cụ Canh, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng, chúng được thể hiện thông qua những chiếc nón tưởng chừng như đơn giản.

80 tuổi có lẻ này, cụ Canh được cho là người “giàu có” bậc nhất khi có trong tay 11 kiểu nón quai thao cổ. Chúng có nhiều loại như: Nón của người Tày, nón của người Thái… với nhiều kích cỡ (đường kính vành nón) khác nhau: 60cm, 55cm, 22cm…

Tiếng lành đồn xa, mỗi khi nhắc tới nón làng Chuông, người ta lại nhắc tới cái tên Phạm Trần Canh với lòng mến phục.

Gửi dáng hình nón quai thao cho hậu thế

Trên những bức tường xung quanh nhà cụ Canh có treo rất nhiều ảnh và bằng khen. Nhiều bức hình, tấm bằng khen đã có tuổi cả chục năm được chụp khi cụ tham gia hoạt động cách mạng thời trẻ. Cụ bà Nguyễn Thị Cẩm, vợ cụ Canh cho biết: “Cụ Canh có nhiều họ lắm như Phạm Trần Canh, Nguyễn Văn Canh… nên bằng khen mỗi cái ghi một tên khác nhau. Do cụ ông tham gia hoạt động tình báo nên phải thay họ”.

Năm 1946, khi mới 17 tuổi, cụ Canh đăng ký đi bộ đội. Cụ được phân hoạt động tình báo trong nội thành, thu thập tin tức quân địch. Năm 1952, cụ bị thương trong một trận đánh ác liệt, phải “gửi” lại ở chiến trường chân phải. Năm 1954, với thương tật 2/4, cụ Canh trở về làng cùng người vợ gốc Nghệ An tiếp tục làm nghề nón của ông cha.

Qua nhiều thế kỉ, chợ nón Chuông vẫn giữ được dáng vẻ thơ mộng và dân dã.

Cụ Canh nay đã hơn 80 tuổi, nhưng đôi mắt vẫn còn tinh anh lắm, vẫn tự mình xỏ kim, khâu nón mà chẳng cần đến đôi kính lão giúp sức. Ở cái tuổi này, người ta đã có thể bỏ gánh nặng cuộc sống mà vui vầy cùng con cháu lúc tuổi già, nhưng “nhìn nghề nón cổ của làng đang dần bị mai một, mình thấy như người mắc lỗi”.

Năm người con của cụ, người theo nghề giáo, người làm sửa xe… cũng chẳng ai lấy nón quai thao làm cái nghiệp của đời mình. Chỉ khi nào thấy bố làm việc nhiều quá, các anh chị mới xúm lại giúp. Sợ nón quai thao lại thất truyền một lần nữa, cụ Canh mở lớp dạy làm nón miễn phí cho người dân quanh vùng. Không phân biệt nam nữ, già trẻ, chỉ cần có một tấm lòng yêu nghề, muốn giữ gìn và phát huy nét đẹp truyền thống là cụ đều chỉ bảo tận tình. Tính đến nay cũng đã có gần 100 người theo học cụ.

Làm ra được một chiếc nón quai thao phải mất 3 ngày, đòi hỏi người thợ bỏ ra nhiều công sức và thời gian gấp mấy lần những chiếc nón bình thường. Một chiếc nón quai thao muốn hoàn thành phải trải qua 6 công đoạn, mỗi công đoạn có những cái khó khác nhau. Đầu tiên là việc mua và chuẩn bị nguyên liệu. Những chiếc lá cọ chở từ Phú Thọ về sẽ được đem đi phơi nắng chừng 3 ngày. Khi lá cọ đã chuyển từ xanh sang trắng và khô lại, chúng sẽ được cắt ra, độ dài tuỳ thuộc vào đường kính vành nón định làm. Trong công đoạn đầu tiên này, khó nhất là việc là lá bằng lưỡi cày nung nóng, cốt làm cho lá thẳng ra.

Bước tiếp theo là làm vòng nón. Sau đó lợp từng thớ lá lên chiếc khung đã làm sao cho gân lá đều nhau. Công đoạn này đòi hỏi sự khéo tay và tỉ mỉ nhất, một người thợ lành nghề như cụ Canh cũng phải mất tới 3 giờ tỉ mẩn. Tiếp đó là khâu nón từ trên đỉnh xuống thành các vòng tròn để cố định lá vào vòng nón. Khi chiếc nón đã khâu xong phần cơ bản, người thợ phải nức nón, tức là cạp nón lại cho chắc chắn. Khâu cuối cùng là trang trí, chỉnh sửa và đem hun qua bằng diêm sinh cho nón trở nên trắng và bền hơn. Nón càng to, thời gian làm nón càng lâu và công phu, trong khi giá bán chỉ khoảng 50.000đ đến 80.000đ 1 chiếc, tùy kích thước.

Đắn đo và trăn trở với việc giữ nghề, cụ Canh cùng cụ Tiên là hai nghệ nhân già trong làng quyết tâm quảng bá hình ảnh nón quai thao rộng hơn nữa. Hai cụ thường tham gia các hội chợ triển lãm với những mẫu nón quai thao độc đáo, để người dân hiểu hơn nữa những giá trị văn hóa truyền thống ẩn trong những chiếc nón nhỏ bé.

Không chỉ là người làm hồi sinh nón quai thao của làng, cụ Canh còn góp phần đưa nón làng Chuông, đưa nét văn hóa đẹp của Việt Nam đến với bạn bè năm châu. Năm 2001, cụ tự tay khâu 2 chiếc nón quai thao khổng lồ có đường kính 2m do khách sạn Liên Hoa, Hà Nội đặt mua đem đi triển lãm Hàng thủ công mỹ nghệ tại Cộng hoà Czech và Đức. Với một khát khao cháy bỏng rằng “nghề nón cổ của làng sẽ được cả thế giới biết đến”, cụ đã không ngại vất vả, làm việc cật lực trong 15 ngày. Mỗi tấm lá cọ, mỗi đường kim mũi chỉ đều như chứa đựng mồ hôi và hy vọng của cả hai vợ chồng.

Không nằm ngoài mong đợi, hai chiếc nón đã gây được sự chú ý, tò mò của bạn bè quốc tế. Nón làng Chuông chính thức xuất ngoại, đem văn hóa Việt Nam tới mọi miền thế giới. Để ghi nhận những đóng góp và biểu dương tài năng của cụ Canh, năm 2007, cụ được nhận bằng chứng nhận “Nghệ nhân làng nghề Hà Tây”.

Trong số 4.000 hộ làm nón ở làng cũng có vài hộ làm nón quai thao, cũng có hộ làm nghề xuất khẩu nón. Nhưng chẳng chiếc nón nào đẹp bằng nón cụ Canh. Nón cụ đẹp không chỉ bởi hình dáng, màu sắc, mà bởi trong đó còn chứa đựng tâm tư của cả một đời người luôn suy tư vì nghề.

Theo Thu Mừng
Công an nhân dân

544 Lượt xem
Làng Chuông Miền Nam

Hội có tiêu chí hoạt động , trên tinh thần bình đẳng cùng nhau góp sức, góp của để xây dựng hội ngày một lớn mạnh , và trường tồn cho muôn đời sau , luôn nhớ về cội nguồn của Cha , Ông , Tổ Tiên…   Với ý tưởng mộc mạc và đơn sơ đó , hội đã nhận được nhiều sự đồng lòng chung sức của các hội viên đóng gióp công sức , tiền bạc để duy trì mọi hoạt động của hội , dến nay hội đã có hơn 800 Hội viên chính thức.

We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…